top of page

Lê-a và Ra-chên — Ý muốn của Đức Chúa Trời qua hai chị em

  • Writer: Truyền đạo Tin Lành Belinda Ramirez
    Truyền đạo Tin Lành Belinda Ramirez
  • 21 hours ago
  • 7 min read


Phân đoạn Kinh Thánh: Sáng Thế Ký 29–30; Sáng Thế Ký 35:16–26


Lê-a và Ra-chên, là các con gái của La-ban, là những nhân vật quan trọng trong sự bày tỏ kế hoạch giao ước của Đức Chúa Trời. Câu chuyện của họ chủ yếu được chép trong Sáng Thế Ký 29–30 và Sáng Thế Ký 35. Qua hai chị em này, mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên bắt đầu được hình thành, và qua Giu-đa, con trai của Lê-a, dòng dõi lời hứa dẫn đến Đấng Christ là Đấng Mê-si sẽ tiếp tục theo ý muốn của Đức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 49:10; Ma-thi-ơ 1:2–3).


Khi Gia-cốp đi đến xứ của gia đình mẹ mình, ông đến một cái giếng ngoài đồng, nơi các người chăn chiên tụ họp bầy của họ lại (Sáng Thế Ký 29:1–3). Tại đó ông thấy Ra-chên, con gái của La-ban, đang dẫn chiên của cha mình đến: “Trong lúc người còn đang nói với họ, thì Ra-chên đến với bầy chiên của cha mình; vì nàng chăn chiên đó” (Sáng Thế Ký 29:9).


Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Gia-cốp lập tức bày tỏ lòng tốt với Ra-chên, lăn tảng đá khỏi miệng giếng và cho bầy chiên của La-ban uống nước (Sáng Thế Ký 29:10). “Gia-cốp hôn Ra-chên, rồi cất tiếng khóc” (Sáng Thế Ký 29:11). Sau khi biết nàng là bà con của mình, Gia-cốp ở lại với La-ban, và theo thời gian, “Gia-cốp yêu Ra-chên” (Sáng Thế Ký 29:18).


Gia-cốp đồng ý làm việc cho La-ban bảy năm để cưới Ra-chên, và “đối với người, bảy năm ấy chỉ như vài ngày, vì người yêu nàng” (Sáng Thế Ký 29:20). Nhưng La-ban đã lừa dối Gia-cốp. “Đến chiều tối, ông đem Lê-a, con gái mình, đến cho người” (Sáng Thế Ký 29:23). Đến sáng hôm sau, Gia-cốp phát hiện người được đưa cho mình lại là Lê-a thay vì Ra-chên (Sáng Thế Ký 29:25).


Sau tuần lễ cưới của Lê-a, La-ban cũng gả Ra-chên cho Gia-cốp, và Gia-cốp làm việc thêm bảy năm nữa cho nàng (Sáng Thế Ký 29:27–30). Vì vậy, qua sự lừa dối và khó khăn, cả Lê-a và Ra-chên đều trở thành vợ của Gia-cốp theo sự bày tỏ của ý muốn Đức Chúa Trời.


Kinh Thánh cũng cho thấy rằng sự căng thẳng và ganh đua đã phát triển giữa hai chị em. “Đức Giê-hô-va thấy Lê-a bị ghét, nên cho nàng sanh sản; còn Ra-chên thì son sẻ” (Sáng Thế Ký 29:31). Lê-a sinh cho Gia-cốp các con trai — Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi và Giu-đa (Sáng Thế Ký 29:32–35). Nhưng Ra-chên ganh tị với chị mình vì nàng chưa có con, nên nói với Gia-cốp rằng: “Hãy cho tôi con cái, bằng không tôi chết mất” (Sáng Thế Ký 30:1).


Sự tranh chấp của họ được thấy rõ hơn qua việc mandrakes (Sáng Thế Ký 30:14–24). “Ru-bên đi ra đồng vào mùa gặt lúa mì, gặp mandrakes ngoài đồng, rồi đem về cho mẹ mình là Lê-a. Ra-chên nói với Lê-a rằng: Xin chị cho tôi ít mandrakes của con chị” (Sáng Thế Ký 30:14). Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ, từ được dịch là “mandrakes” là דּוּדָאִים (dûdâ’îm), một loại cây được liên kết với họ belladonna và trong thế giới Cận Đông cổ đại thường gắn liền với tình yêu, ham muốn, khả năng sinh sản và sự thụ thai. Cây mandrake được biết đến với những rễ dài giống hình người, vì thế nhiều nền văn hóa cổ xưa tin rằng nó có năng lực đặc biệt.


Trái của nó thường được mô tả có màu vàng và cỡ như một trái táo nhỏ, còn phần rễ thì có mùi rất mạnh. Vì những niềm tin đó, mandrakes được xem như một phương thuốc dân gian liên quan đến khả năng sinh sản và việc có con. Mandrakes chỉ được nhắc đến vài lần trong Kinh Thánh, chủ yếu liên quan đến tình yêu và khả năng sinh sản, xuất hiện tại đây trong Sáng Thế Ký 30:14–16 và sau đó trong Nhã Ca 7:13.


Vì Ra-chên vẫn son sẻ lúc đó, nên việc nàng xin mandrakes phản ánh nỗi đau và sự khao khát sâu sắc mà nàng mang trong lòng để có con. Lê-a đáp với em mình rằng: “Chị cướp chồng tôi chưa đủ sao, còn muốn lấy luôn mandrakes của con tôi nữa à?” (Sáng Thế Ký 30:15). Sau đó Ra-chên thương lượng với Lê-a về Gia-cốp, rằng: “Vậy tối nay anh ấy sẽ ở với chị để đổi lấy mandrakes của con chị” (Sáng Thế Ký 30:15). Sự việc này cho thấy sự căng thẳng, ganh đua và cạnh tranh liên tục giữa Ra-chên và Lê-a liên quan đến tình cảm của Gia-cốp và mong muốn có con.


Sự ganh đua giữa hai chị em còn tiếp tục hơn nữa khi Ra-chên đưa đầy tớ gái mình là Bi-la cho Gia-cốp để nàng có con qua người ấy (Sáng Thế Ký 30:3–8), và sau đó Lê-a cũng đưa đầy tớ gái mình là Xinh-ba cho Gia-cốp (Sáng Thế Ký 30:9–13). Qua Bi-la sinh ra Đan và Nép-ta-li, còn qua Xinh-ba sinh ra Gát và A-se. Dù những hành động này phản ánh sự cố gắng của con người, nỗi đau và sự cạnh tranh trong gia đình, Kinh Thánh liên tục cho thấy rằng phước lành thật sự, sự kết quả và sự ứng nghiệm lời hứa của Đức Chúa Trời không đến từ phương cách loài người, thuốc dân gian hay nỗ lực của con người, nhưng chỉ đến từ Đức Chúa Trời và theo đúng thời điểm cùng ý muốn của Ngài.


Tuy nhiên, Kinh Thánh cho thấy rằng trong khi Ra-chên nhận được mandrakes, thì sau đó Lê-a lại thụ thai và sinh thêm một con trai. “Đức Chúa Trời nhậm lời Lê-a; nàng thụ thai và sinh cho Gia-cốp người con trai thứ năm” (Sáng Thế Ký 30:17). Lê-a đặt tên nó là Y-sa-ca, nghĩa là “phần thưởng”, và nói rằng: “Đức Chúa Trời đã ban phần thưởng cho tôi” (Sáng Thế Ký 30:18). Điều này một lần nữa cho thấy rằng sự thụ thai và phước lành chỉ đến từ tay Đức Chúa Trời mà thôi.


Kinh Thánh tiếp tục chép rằng: “Đức Chúa Trời nhớ lại Ra-chên, Đức Chúa Trời nhậm lời nàng và mở lòng nàng ra” (Sáng Thế Ký 30:22). Ngôn ngữ này phản ánh Sáng Thế Ký 8:1: “Đức Chúa Trời nhớ lại Nô-ê”, khi Đức Chúa Trời chăm sóc Nô-ê trong cơn nước lụt và đem ông qua khỏi cách an toàn theo quyền năng và sự thành tín của Ngài. Cũng vậy, Đức Chúa Trời nhớ đến Ra-chên trong sự đau khổ của nàng và đáp lời kêu cầu của nàng.


Sau đó Ra-chên sinh một con trai “và đặt tên là Giô-sép, mà rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va thêm cho tôi một con trai nữa” (Sáng Thế Ký 30:24). Tên Giô-sép mang ý nghĩa “cất đi” hoặc “thêm vào”, phản ánh rằng Đức Chúa Trời đã cất bỏ sự hổ thẹn vì son sẻ của nàng và cũng sẽ thêm cho nàng một con trai khác nữa. Đức Chúa Trời sau này làm trọn điều đó qua Bên-gia-min, người mà Ra-chên sinh ra nhiều năm sau (Sáng Thế Ký 35:16–18).


Dù mandrakes là một phần trong các niềm tin văn hóa liên quan đến khả năng sinh sản trong thế giới cổ đại, Kinh Thánh cho thấy rõ rằng Ra-chên không thụ thai vì mandrakes, nhưng vì Đức Chúa Trời đã can thiệp theo ý muốn tể trị của Ngài. Ngay cả giữa sự cố gắng của con người, sự khao khát, mê tín, ghen tị, thiên vị và yếu đuối, ý muốn của Đức Chúa Trời vẫn được làm trọn theo Lời Ngài.


Qua Lê-a và Ra-chên, nền tảng của các chi phái Y-sơ-ra-ên được thiết lập. Cùng với các đầy tớ gái Bi-la và Xinh-ba, họ được kết nối với sự khởi đầu của mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên. Kinh Thánh ghi lại rằng Lê-a sinh Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca, Sa-bu-lôn và Đi-na (Sáng Thế Ký 29:31–35; Sáng Thế Ký 30:17–21). Qua Giu-đa, con trai của Lê-a, dòng dõi hoàng gia tiếp tục, khiến nàng trở thành tổ mẫu của dòng dõi Đa-vít và cuối cùng là của chính Giê-xu Ki-tô, Đấng Mê-si (Sáng Thế Ký 49:10; Ma-thi-ơ 1:2–3).


Ra-chên sinh Giô-sép và Bên-gia-min (Sáng Thế Ký 30:22–24; Sáng Thế Ký 35:16–18). Giô-sép sau này trở thành công cụ quyền năng được Đức Chúa Trời sử dụng để bảo tồn sự sống trong thời kỳ đói kém, và qua Giô-sép sinh ra Ép-ra-im và Ma-na-se, những người trở thành các chi phái trong Y-sơ-ra-ên theo phước lành Gia-cốp ban cho (Sáng Thế Ký 48:5). Kinh Thánh cũng cho thấy rõ tình yêu sâu đậm của Gia-cốp dành cho Ra-chên, vì “Gia-cốp yêu Ra-chên” (Sáng Thế Ký 29:18), và nàng vẫn là người vợ mà ông luôn mong muốn từ ban đầu. Ra-chên qua đời khi sinh Bên-gia-min gần Bết-lê-hem: “Ra-chên chết và được chôn trên đường đến Ép-rát, tức là Bết-lê-hem” (Sáng Thế Ký 35:19).


Tuy nhiên, Lê-a sống với Gia-cốp trong phần lớn cuộc đời của ông, và cuối cùng nàng được chôn với ông trong hang Mách-bê-la tại Hếp-rôn, nơi Áp-ra-ham và Sa-ra, Y-sác và Rê-bê-ca cũng được chôn. Chính Gia-cốp đã nói rằng: “Tại đó người ta chôn Áp-ra-ham và Sa-ra vợ người; tại đó người ta chôn Y-sác và Rê-bê-ca vợ người; và tại đó ta đã chôn Lê-a” (Sáng Thế Ký 49:31).


Câu chuyện của họ cho thấy rằng dù có đau buồn, ganh đua, thiên vị, lừa dối và xung đột trong gia đình, ý muốn của Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục tiến tới theo Lời Ngài. Như sau này được công nhận trong Ru-tơ 4:11, Lê-a và Ra-chên cùng được nhìn nhận là hai người “đã xây dựng nhà Y-sơ-ra-ên.”








Comments


bottom of page